Chính phủ đề xuất áp mức thuế 0,2% với đất bỏ hoang

Theo đề xuất của Chính phủ, đất bỏ hoang, không đưa vào sử dụng, chậm đưa vào sử dụng sẽ áp dụng mức thuế suất 0,2% - đây là mức thuế suất cao nhất tại Luật Thuế sử dụng đất phi nông nghiệp hiện hành.

Sáng 23/10, Quốc hội đã nghe Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn, thừa ủy quyền của Thủ tướng Chính phủ, trình bày tờ trình dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp, Luật Thuế sử dụng đất phi nông nghiệp, Luật Thuế thu nhập cá nhân.

 Dùng chính sách thuế để hạn chế tình trạng đầu cơ, bỏ hoang đất 

Về Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp và Luật Thuế thu nhập cá nhân, dự thảo sửa đổi, bổ sung khoản 5 Điều 15 của Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp về miễn thuế thu nhập doanh nghiệp đối với cơ sở giáo dục, không phân biệt công lập hay tư thục, hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận.

Dự thảo cũng bổ sung quy định miễn thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế thu nhập cá nhân đối với thu nhập của doanh nghiệp, cá nhân kinh doanh dịch vụ cung cấp suất ăn cho cơ sở giáo dục, cơ sở khám chữa bệnh.

Chính phủ đề xuất áp mức thuế 0,2% với đất bỏ hoang - Ảnh 1.

Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn trình bày tờ trình (Ảnh: Media Quốc hội).

Cùng với việc thực hiện các chính sách miễn, giảm, gia hạn thuế, phí, lệ phí, tiền thuê đất, Chính phủ đề xuất bổ sung quy định miễn thuế đối với phần thu nhập của doanh nghiệp, cá nhân cư trú từ việc cung cấp suất ăn cho cơ sở giáo dục, cơ sở khám chữa bệnh để góp phần hỗ trợ cho các doanh nghiệp, cá nhân kinh doanh trong việc giảm chi phí, thúc đẩy hình thành các cơ sở cung cấp suất ăn có quy mô lớn, tuân thủ đầy đủ các quy định về an toàn thực phẩm, qua đó giảm chi phí cho người học và người bệnh.

Quy định miễn thuế này áp dụng đối với cả doanh nghiệp cung cấp suất ăn nộp thuế thu nhập doanh nghiệp theo tỉ lệ phần trăm trên doanh số.

Về Luật Thuế sử dụng đất phi nông nghiệp, Chính phủ đề xuất bổ sung quy định trường hợp được miễn thuế sử dụng đất phi nông nghiệp đối với cơ sở giáo dục tại Điều 9 Luật Thuế sử dụng đất phi nông nghiệp để thực hiện chủ trương của Đảng tại Nghị quyết số 71.

Đồng thời, dự thảo quy định miễn thuế sử dụng đất phi nông nghiệp đối với đất ở trong hạn mức của người dân tộc thiểu số tại vùng đồng bào dân tộc và miền núi theo quy định của Chính phủ tại Điều 9 Luật Thuế sử dụng đất phi nông nghiệp để thực hiện chủ trương của Đảng tại Nghị quyết số 21.

Đặc biệt, Chính phủ đề xuất bổ sung quy định về thuế suất 0,2% đối với đất bỏ hoang, đất không đưa vào sử dụng, đất chậm đưa vào sử dụng tại Điều 7 Luật Thuế sử dụng đất phi nông nghiệp để thực hiện chủ trương của Đảng tại Nghị quyết số 21.

Theo Bộ trưởng Ngô Văn Tuấn, đây là mức thuế suất cao nhất tại Luật Thuế sử dụng đất phi nông nghiệp hiện hành, tương đương với thuế suất đối với đất lấn chiếm và gấp 7 lần đất ở trong hạn mức. Các khái niệm đất bỏ hoang, đất không đưa vào sử dụng, đất chậm đưa vào sử dụng được xác định theo quy định của pháp luật về đất đai.

Lo trùng nghĩa vụ tài chính khi đánh thuế 0,2% với đất chậm sử dụng

Trình bày báo cáo thẩm tra, Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế và Tài chính Phan Văn Mãi cho biết Ủy ban tán thành quy định về thuế suất 0,2% đối với đất bỏ hoang, đất không đưa vào sử dụng, đất chậm đưa vào sử dụng.

Song theo cơ quan thẩm tra, khi đối chiếu với Luật Thuế sử dụng đất phi nông nghiệp hiện hành và dự thảo Luật Đất đai sửa đổi, quy định tại dự thảo luật này lại còn mâu thuẫn, chưa thống nhất và chưa rõ căn cứ để thực hiện.

Cụ thể, luật hiện hành đã quy định áp dụng thuế suất 0,15% đối với đất chưa sử dụng theo đúng quy định, về bản chất là đất không đưa vào sử dụng, chậm đưa vào sử dụng. Nếu bổ sung như đề xuất của Chính phủ có thể dẫn đến cách hiểu cùng một diện tích đất có thể thuộc đối tượng áp dụng với 2 mức thuế suất khác nhau.

Chính phủ đề xuất áp mức thuế 0,2% với đất bỏ hoang - Ảnh 2.

Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế và Tài chính Phan Văn Mãi (Ảnh: Media Quốc hội).

Bên cạnh đó, dự thảo luật này dẫn chiếu pháp luật về đất đai đối với 3 trường hợp "đất bỏ hoang", "không đưa vào sử dụng", "chậm đưa vào sử dụng", trong khi dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) chỉ quy định khái niệm đất bỏ hoang và các trường hợp thu hồi đất bỏ hoang do vi phạm pháp luật về đất đai đối với đất bỏ hoang, nên quy định dẫn chiếu chưa có căn cứ để áp dụng.

Với đất thực hiện dự án đầu tư không sử dụng hoặc chậm sử dụng, dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) quy định ngoài tiền sử dụng đất, tiền thuê đất phải nộp, Nhà nước thu tiền sử dụng đất tăng thêm, tiền thuê đất tăng thêm được tính lũy tiến hằng năm. Trường hợp quá 60 tháng mà chủ đầu tư vẫn không đưa đất vào sử dụng thì Nhà nước thu hồi đất.

Khoản tiền này là khoản thu ngân sách từ đất đai thuộc tiền sử dụng đất, tiền thuê đất. Chính phủ báo cáo khoản tiền này và thuế suất 0,2% tại dự thảo luật này cũng nhằm thể chế hóa Nghị quyết số 21 của Trung ương đối với đất thực hiện dự án đầu tư không sử dụng, chậm sử dụng.

Trình Quốc hội hợp nhất Luật Ngân sách nhà nước và Luật Đầu tư công

Như vậy, theo cơ quan thẩm tra, cùng một diện tích đất dự án không sử dụng, chậm sử dụng vừa phải nộp tiền sử dụng đất, tiền thuê đất tăng thêm theo dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi), vừa phải nộp thuế sử dụng đất phi nông nghiệp với thuế suất 0,2% theo dự thảo luật này, dẫn đến trùng lặp nghĩa vụ tài chính đối với cùng một hành vi.

Cơ quan thẩm tra cũng cho rằng, hồ sơ dự án luật chưa đánh giá được tác động thu ngân sách Nhà nước do dữ liệu về các loại đất này chưa được thống kê trên hệ thống quản lý của cơ quan thuế.

Ngoài ra, dự thảo luật chưa loại trừ thời gian bất khả kháng và đất của dự án đầu tư phân kỳ được phê duyệt. Theo Ủy ban Kinh tế và Tài chính, điều này có thể dẫn đến thu thuế trường hợp chậm sử dụng đất do nguyên nhân khách quan.

Dự thảo luật áp dụng cùng mức thuế suất 0,2% đối với cả đất chậm đưa vào sử dụng nhưng chưa làm rõ căn cứ và lộ trình.

Ủy ban Kinh tế và Tài chính đề nghị cơ quan chủ trì soạn thảo làm rõ mối quan hệ giữa thuế suất 0,2% với khoản tiền phải nộp theo pháp luật về đất đai, không trùng lặp nghĩa vụ tài chính nhưng không làm giảm nghĩa vụ của các trường hợp đang áp dụng thuế suất 0,15%. Đồng thời, lưu ý cần bổ sung đánh giá tác động đối với ngân sách Nhà nước, người nộp thuế và khả năng tổ chức thực hiện.