Người bán cá nói thật: Khách thường tìm cá đắt, người trong nghề lại chọn 5 loại cá biển bình dân này

Không phải cá càng to, giá càng cao mới càng ngon. Một số loại cá biển nhỏ lại có thịt mềm và phù hợp với nhiều món ăn gia đình.

Đứng trước một quầy hải sản với hàng chục loại cá, nhiều người thường ưu tiên những con còn sống, kích thước lớn hoặc giá cao. Tuy nhiên, người hiểu đặc điểm từng loại cá lại chú ý nhiều hơn đến độ tươi, kết cấu thịt và cách chế biến.

Theo Sohu, những người bán hải sản cho biết 5 loại cá biển dưới đây có giá tương đối dễ tiếp cận tại các chợ ven biển nhưng vẫn được đánh giá cao về hương vị.

Cá nục gai

 - Ảnh 1.

Cá nục gai (Ảnh: 21food).

Cá nục gai thường được bán dưới dạng ướp lạnh, thịt chắc và có vị đậm tự nhiên. So với nhiều loại cá biển lớn, cá nục có mức giá dễ tiếp cận hơn nhưng vẫn phù hợp với bữa cơm hằng ngày.

Cá nục ngon nhất khi chiên, kho hoặc nấu. Khi chế biến không nên sử dụng quá nhiều gia vị mạnh, tránh làm át vị ngọt và mùi thơm đặc trưng của thịt cá.

Cá nục giàu protein, sắt, canxi, kali, selen cùng nhiều vitamin như A, D, K và B12. Đặc biệt, mỗi 100g thịt cá có thể cung cấp khoảng 2.616mg omega-3, với tỷ lệ EPA và DHA đáng chú ý. Nhờ đó, cá nục góp phần hỗ trợ sức khỏe tim mạch, não bộ và làm chậm quá trình thoái hóa thần kinh.

Cá đù vàng cỡ nhỏ

 - Ảnh 2.

Cá đù vàng (Ảnh: Etaiwan).

Cá đù vàng thường có giá tăng theo kích thước, vì vậy những con nhỏ dễ mua hơn. Tuy nhiên, kích thước nhỏ không đồng nghĩa với thịt kém ngon.

Cá đù vàng nhỏ có phần thịt mềm, dễ thấm gia vị và không quá nhiều xương dăm. Loại cá này thích hợp để kho, sốt hoặc hấp.

Khi mua, người tiêu dùng nên ưu tiên những con có thân nguyên vẹn, mắt còn trong, mang đỏ và thịt có độ đàn hồi. Một con cá nhỏ nhưng còn tươi thường đáng chọn hơn cá lớn đã bảo quản quá lâu.

Cá đù vàng giàu protein, vitamin nhóm B, sắt, selen, phốt pho cùng các axit béo omega-3 như DHA và EPA. Những dưỡng chất này góp phần hỗ trợ tạo máu, tiêu hóa, tim mạch, não bộ, thị lực, xương khớp và sức khỏe làn da.

Nhờ giàu chất chống oxy hóa và chất béo tốt, cá đù vàng còn giúp cơ thể chống viêm, làm chậm lão hóa và hỗ trợ kiểm soát cân nặng.

Cá vược cỡ nhỏ

 - Ảnh 3.

Cá vược (Ảnh: Sohu).

Tại các chợ hải sản, cá vược lớn thường được nuôi sống trong bể, trong khi cá nhỏ có thể được bày bán dưới dạng ướp lạnh. Chính sự khác biệt này khiến nhiều người mặc định cá lớn luôn ngon hơn.

Tuy nhiên, theo kinh nghiệm của những người bán cá, cá vược cỡ nhỏ có phần thịt mềm và ít bị khô, phù hợp với món hấp. Kích thước vừa phải cũng giúp cá chín đều, dễ chế biến nguyên con và phù hợp với bữa ăn của gia đình ít người.

Dù vậy, độ ngon còn phụ thuộc vào giống cá, độ tươi và thời gian bảo quản, không nên chỉ dựa vào kích thước để lựa chọn.

Cá liệt

 - Ảnh 4.

Cá liệt (Ảnh: Kết nối giao thương).

Cá liệt là loại cá biển nhỏ sống gần bờ, thân dẹp, thịt trắng săn chắc và có vị ngọt tự nhiên. Loại cá bình dân này có nhiều giống như cá liệt búa, liệt chỉ vàng, liệt nhớt, thường được dùng để nấu canh, kho, chiên hoặc nướng. Nhờ thịt thơm ngon, dễ chế biến và giá tương đối dễ tiếp cận, cá liệt từ lâu đã trở thành món ăn quen thuộc của người dân miền Trung của Việt Nam.

Cá khoai

 - Ảnh 5.

Cá khoai (Ảnh: Let's Go Deliver).

Cá khoai có tên khoa học Harpadon nehereus. Loài cá này có thịt trắng, rất mềm, gần như tan ra khi được nấu chín.

Do thịt mềm và cơ thể khó giữ được lâu sau khi đánh bắt, cá khoai thường được bán dưới dạng ướp lạnh thay vì nuôi sống trong bể. Cá có thể dùng để nấu canh, nấu lẩu, chiên hoặc kho, nhưng cần đảo nhẹ tay để tránh làm nát thịt.

Kết cấu mềm đặc biệt khiến cá khoai được nhiều người yêu thích, song cũng có người không quen vì cảm giác trơn và ít độ dai.

Tổng hợp