Nợ công của Việt Nam đang ở mức khoảng 34% GDP

Thông tin này vừa được Thủ tướng thông tin tại phiên đối thoại trong khuôn khổ Diễn đàn Kinh tế mùa Thu 2026.
Thủ tướng chia sẻ tại phiên đối thoại trong khuôn khổ Diễn đàn Kinh tế mùa Thu 2026. Ảnh: VGP

Thủ tướng chia sẻ tại phiên đối thoại trong khuôn khổ Diễn đàn Kinh tế mùa Thu 2026. Ảnh: VGP

Ngày 28/10, tại TP HCM, trong khuôn khổ Diễn đàn Kinh tế mùa Thu 2026, Thủ tướng Lê Minh Hưng đã đối thoại với ông Stephan Mergenthaler, Giám đốc điều hành Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF) về chủ đề "Định vị Việt Nam trong tương lai toàn cầu", tập trung vào 5 nội dung trọng tâm.

Trong đó, có trọng tâm về kiến tạo những động lực tăng trưởng mới của Việt Nam.

Trong một kỷ nguyên bất định gia tăng, khi các cú sốc địa kinh tế, chu kỳ công nghệ và áp lực khí hậu ngày càng dồn dập, theo Thủ tướng, khả năng chống chịu là vấn đề đặc biệt quan trọng, rất thời sự với các quốc gia, các nền kinh tế và từng doanh nghiệp.

Trong một thế giới bất định, sức chống chịu của một quốc gia không chỉ là khả năng đứng vững trước các cú sốc, mà quan trọng hơn là khả năng thích ứng, phục hồi, năng lực chủ động sáng tạo, tự đổi mới và phát triển mạnh mẽ hơn sau mỗi biến động. Thủ tướng nhấn mạnh, một nền kinh tế có thể vượt qua khó khăn trước mắt, tạm thời nhưng vẫn dễ bị tổn thương, khó củng cố sức chống chịu nếu không điều chỉnh được những vấn đề hạn chế có tính cơ cấu.

Thủ tướng nhấn mạnh, Việt Nam là một nền kinh tế có độ mở rất cao, dễ chịu tác động trực tiếp từ các cú sốc bên ngoài. Việt Nam không chỉ chú trọng xử lý các vấn đề ngắn hạn mà đã và đang chủ động xây dựng thực thi đường lối chiến lược phát triển dài hạn; tăng cường tự chủ, năng lực chống chịu.

Nợ công Việt Nam đang ở mức khoảng 34% GDP - Ảnh 1.

Thủ tướng Lê Minh Hưng đối thoại với ông Stephan Mergenthaler, Giám đốc điều hành Diễn đàn Kinh tế Thế giới. Ảnh: VGP

Khi được CEO WEF đề nghị làm rõ hơn cách nào để Việt Nam củng cố sức chống chịu, Thủ tướng đã chỉ ra 5 giải pháp.

Thứ nhất là kiên định ổn định chính trị - xã hội và củng cố vững chắc nền tảng kinh tế vĩ mô. Đây cũng là điều kiện tiên quyết để củng cố niềm tin người dân, cộng đồng doanh nghiệp trong và ngoài nước. Vì vậy, các chính sách vĩ mô sẽ tiếp tục được điều hành linh hoạt để bảo đảm nền tảng ổn định vững chắc, các cân đối lớn, an ninh năng lượng và an ninh lương thực trong một thế giới đang biến động mạnh.

Người đứng đầu Chính phủ cho biết, hiện nợ công của Việt Nam khoảng 34% GDP, có dư địa tài chính để hỗ trợ người dân và doanh nghiệp khi xảy ra cú sốc kinh tế, vừa bảo đảm khả năng tài chính để tiếp tục đầu tư cho hạ tầng chiến lược và các mục tiêu phát triển ưu tiên.

Thứ hai, ưu tiên xây dựng thể chế, hoàn thiện khuôn khổ pháp lý theo các chuẩn mực và thông lệ quốc tế, tháo gỡ triệt để các rào cản, điểm nghẽn, vướng mắc để thúc đẩy sản xuất kinh doanh và thu hút nguồn lực đầu tư.

Thứ ba, tập trung xây dựng hạ tầng đồng bộ, hiện đại, thúc đẩy mạnh mẽ khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số cùng các chính sách khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi để nâng cao năng lực của doanh nghiệp Việt Nam, trong đó ưu tiên hỗ trợ từng bước làm chủ công nghệ.

Trong đó, ưu tiên cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh; hỗ trợ doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp vừa và nhỏ, doanh nghiệp tư nhân, nâng cao năng lực quản trị, tài chính, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và chuyển đổi xanh qua đó nâng cao năng suất, chất lượng. Đồng thời, thúc đẩy liên kết giữa doanh nghiệp trong nước với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Việt Nam sẽ thu hút đầu tư có chọn lọc, gắn với chuyển giao và làm chủ công nghệ, đào tạo nhân lực chất lượng cao và nâng tỷ lệ giá trị gia tăng trong nước.

Thứ tư là đổi mới mạnh mẽ, nâng cao chất lượng, hiệu quả giáo dục đào tạo, trong đó ưu tiên giáo dục đại học, đào tạo nghề để đáp ứng nhu cầu thị trường thích ứng với những thay đổi của thị trường lao động, các ngành nghề mới.

Thứ năm là tiếp tục củng cố cục diện đối ngoại rộng mở, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ để mở rộng không gian phát triển.

Việt Nam muốn trở thành một mắt xích quan trọng

Nợ công Việt Nam đang ở mức khoảng 34% GDP - Ảnh 2.

Phiên đối thoại diễn ra trong khuôn khổ Diễn đàn Kinh tế mùa Thu 2026, ngày 28/10. Ảnh: VGP

Cũng tại phiên đối thoại, hướng đến năm 2035, Thủ tướng cho biết, Việt Nam rất mong muốn thành một trung tâm công nghệ số mới nổi, năng lượng mới, năng lượng xanh và nông nghiệp xanh; mắt xích quan trọng, đáng tin cậy trong các chuỗi cung ứng và giá trị khu vực, toàn cầu, các cực tăng trưởng mới; đóng góp nhiều hơn vào tăng trưởng khu vực và thế giới.

Theo Thủ tướng, Việt Nam có 3 thế mạnh đặc trưng để hiện thực hóa các vai trò đó. Thứ nhất, Việt Nam có thế mạnh về vị trí địa chiến lược, rất ổn định về chính trị, kinh tế vĩ mô và là điểm sáng về tăng trưởng tại khu vực và trên thế giới.

Thứ hai, Việt Nam đang chuyển sang giai đoạn phát triển mới với tầm nhìn chiến lược, mục tiêu lớn, quyết tâm cao, hành động quyết liệt đúng vào thời điểm kinh tế thế giới cũng đang tái cấu trúc mạnh.

Thứ ba, Việt Nam có nền tảng nội lực đủ rộng để vừa tiếp nhận, vừa đóng góp cho các mạng lưới tăng trưởng mới. Đó là quy mô dân số trên 100 triệu người, nguồn nhân lực dồi dào, có truyền thống coi trọng giáo dục, kỹ năng tốt, khả năng học hỏi và thích ứng nhanh; đồng thời nền sản xuất đã được kiểm chứng qua nhiều năm tham gia chuỗi giá trị toàn cầu…

Ngoài ra, khi được đề nghị gửi thông điệp chung đến cộng đồng nhà đầu tư quốc tế, Thủ tướng khẳng định rằng, Việt Nam đang tiến hành những nỗ lực đổi mới mạnh mẽ để nâng cao chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế. Thủ tướng mong muốn, trong quá trình này, cộng đồng quốc tế không chỉ nhìn thấy nhu cầu về đầu tư, mở rộng thị trường, mà còn là cơ hội đồng hành.

Theo Thủ tướng, với tinh thần chuyển từ “đầu tư tại Việt Nam” sang “đầu tư cùng Việt Nam”, Việt Nam mong muốn các doanh nghiệp, nhà đầu tư quốc tế tăng cường liên kết với doanh nghiệp trong nước, các viện nghiên cứu và trường đại học, phát triển công nghệ, nguồn nhân lực và mạng lưới nhà cung ứng.

Thủ tướng gửi thông điệp, Việt Nam không chỉ là điểm đến đầu tư, mà còn là đối tác phát triển lâu dài. Việt Nam không chỉ mong muốn tiếp nhận vốn, công nghệ mà còn mong muốn cùng các đối tác hợp tác để cùng phát triển, kiến tạo tương lai chung vì hòa bình, ổn định, thịnh vượng và bền vững.