Từ năm 2027, những người sinh vào năm sau có thể hưởng thêm 1.620.000 đồng/tháng: Điều kiện và cách nhận ra sao?

Người thuộc diện được hưởng trợ cấp hoặc người giám hộ của đối tượng cần nắm rõ để lập Tờ khai đề nghị trợ cấp xã hội, trợ cấp hưu trí xã hội, tránh ảnh hưởng tới quyền lợi.

Theo khoản 2 Điều 4 Nghị định 335/2026/NĐ-CP, mức chuẩn trợ giúp xã hội được quy định là 540.000 đồng/tháng. Đây là cơ sở để tính mức trợ cấp xã hội hằng tháng cho các nhóm đối tượng thuộc diện được hưởng chính sách.

Đối với người cao tuổi, điểm đ khoản 1 Điều 6 Nghị định 335/2026/NĐ-CP quy định 3 hệ số trợ cấp, căn cứ vào độ tuổi và hoàn cảnh cụ thể như sau:

Người từ đủ 60 tuổi đến dưới 75 tuổi thuộc hộ nghèo, không có người có nghĩa vụ và quyền phụng dưỡng hoặc có người phụng dưỡng nhưng người đó đang hưởng trợ cấp xã hội hằng tháng: áp dụng hệ số 1,5.

Mức trợ cấp tương ứng là 540.000 đồng x 1,5 = 810.000 đồng/tháng.

Người từ đủ 75 tuổi trở lên thuộc hộ nghèo, không có người có nghĩa vụ và quyền phụng dưỡng hoặc có người phụng dưỡng nhưng người đó đang hưởng trợ cấp xã hội hằng tháng: áp dụng hệ số 2,0.

Mức trợ cấp được tính là 540.000 đồng x 2,0 = 1.080.000 đồng/tháng.

Người cao tuổi thuộc hộ nghèo, không có người có nghĩa vụ và quyền phụng dưỡng, không có điều kiện sống tại cộng đồng và đủ điều kiện được tiếp nhận vào cơ sở trợ giúp xã hội nhưng có người nhận nuôi dưỡng, chăm sóc tại cộng đồng: áp dụng hệ số 3,0.

Mức trợ cấp là 540.000 đồng x 3,0 = 1.620.000 đồng/tháng.

Các mức trên được tính theo mức chuẩn trợ giúp xã hội quy định tại Nghị định 335/2026/NĐ-CP. Tuy nhiên, theo khoản 3 Điều 4 của Nghị định này, tại những địa phương có điều kiện kinh tế - xã hội bảo đảm, UBND cấp tỉnh có thể trình HĐND cùng cấp quyết định mức chuẩn trợ giúp xã hội và mức trợ giúp xã hội áp dụng trên địa bàn cao hơn mức quy định chung.

Người cao tuổi được quy định là công dân Việt Nam từ đủ 60 tuổi trở lên.

Như vậy, từ năm 2027, những người được nhận trợ cấp 1.620.000 đồng/tháng nếu thuộc tất cả các trường hợp sau:

- Sinh từ năm 1967;

- Không có người có nghĩa vụ và quyền phụng dưỡng,

- Không có điều kiện sống tại cộng đồng và đủ điều kiện được tiếp nhận vào cơ sở trợ giúp xã hội nhưng có người nhận nuôi dưỡng, chăm sóc tại cộng đồng.

Thủ tục hưởng trợ cấp được đơn giản hóa

Người thuộc diện được hưởng trợ cấp hoặc người giám hộ của đối tượng cần lập Tờ khai đề nghị trợ cấp xã hội, trợ cấp hưu trí xã hội theo Mẫu số 01 và gửi hồ sơ bằng một trong các hình thức sau:

- Trực tuyến qua Cổng Dịch vụ công quốc gia;

- Qua dịch vụ bưu chính;

- Nộp trực tiếp tại bất kỳ Bộ phận Một cửa nào.

Trong vòng 07 ngày làm việc kể từ khi tiếp nhận hồ sơ, Chủ tịch UBND cấp xã nơi người đề nghị cư trú có trách nhiệm xác thực thông tin với các cơ sở dữ liệu liên quan, tổ chức thẩm định và ban hành quyết định hưởng trợ cấp hưu trí xã hội. Thời điểm bắt đầu hưởng trợ cấp được tính từ tháng Chủ tịch UBND cấp xã ký quyết định.

Nếu người đề nghị không đáp ứng đủ điều kiện, UBND cấp xã phải trả lời bằng văn bản, trong đó nêu rõ lý do. Quy định này góp phần bảo đảm tính công khai, minh bạch trong quá trình giải quyết chính sách.

Đáng chú ý, với hồ sơ nộp trực tuyến, phần mềm dịch vụ công liên thông có thể tự động điền những thông tin đã có trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử, Cơ sở dữ liệu quốc gia về Bảo hiểm và các hệ thống thông tin liên quan. Người dân chỉ cần bổ sung những nội dung chưa được cập nhật trong các cơ sở dữ liệu này.

Khi người đang hưởng trợ cấp hưu trí xã hội thay đổi nơi cư trú và có đề nghị nhận chế độ tại nơi ở mới, UBND cấp xã nơi cư trú cũ quyết định thôi chi trả và chuyển hồ sơ đến UBND cấp xã nơi cư trú mới. Trên cơ sở hồ sơ, UBND cấp xã nơi cư trú mới quyết định trợ cấp theo mức tương ứng áp dụng tại địa bàn, kể từ tháng thôi chi trả tại nơi cư trú cũ. Quy định này góp phần bảo đảm việc thực hiện chính sách không bị gián đoạn chỉ vì người hưởng thay đổi nơi cư trú.

(Tổng hợp)