Bác sĩ Bạch Mai cảnh báo: 90% trẻ sơ sinh nhiễm viêm gan B từ mẹ có thể trở thành bệnh nhân mạn tính

Theo BSNT Nguyễn Thị Thu Trang, phụ nữ mang thai nhiễm HBV cần được quản lý chặt chẽ, không chỉ để bảo vệ sức khỏe của người mẹ mà còn nhằm ngăn ngừa nguy cơ lây truyền vi rút sang con.

Ở tuần thai thứ 34, thay vì chỉ chờ đợi ngày đón con, một phụ nữ 32 tuổi ở Hưng Yên phải nhập Viện Y học nhiệt đới Bạch Mai, Bệnh viện Bạch Mai trong tình trạng mệt mỏi, vàng da, vàng mắt tăng dần, ăn uống kém.

Kết quả thăm khám cho thấy người bệnh đang trải qua một đợt viêm gan B bùng phát nặng vào những tuần cuối thai kỳ - thời điểm sức khỏe của cả người mẹ và thai nhi cần được bảo vệ đặc biệt.

Điều đáng nói, người bệnh đã biết mình mắc viêm gan B từ nhiều năm trước nhưng không điều trị. Chồng chị cũng mắc viêm gan B. Trong thời gian dài, sức khỏe không có biểu hiện bất thường nên chị không nhận thấy những nguy cơ đang âm thầm tích tụ.

Chỉ ba ngày trước khi nhập viện, chị bắt đầu mệt nhiều, ăn kém, da vàng, nước tiểu vàng sẫm. Xét nghiệm tại cơ sở y tế cho thấy men gan tăng cao, người bệnh được chuyển đến Bệnh viện Bạch Mai.

 - Ảnh 1.

Một phụ nữ 32 tuổi ở Hưng Yên phải nhập Viện Y học nhiệt đới Bạch Mai, Bệnh viện Bạch Mai trong tình trạng mệt mỏi, vàng da, vàng mắt tăng dần, ăn uống kém. (Ảnh: BV)

Tại đây, các bác sĩ ghi nhận viêm gan B tiến triển đợt cấp ở giai đoạn cuối thai kỳ. Tỷ lệ prothrombin 57%, cho thấy chức năng đông máu giảm. Người bệnh cần được theo dõi sát nguy cơ rối loạn đông máu gây chảy máu, suy gan và các biến chứng nặng khác, đe dọa tính mạng của cả mẹ và thai nhi.

Khi bệnh của người mẹ có thể trở thành bệnh của đứa trẻ

Theo BSNT Nguyễn Thị Thu Trang, Khoa Viêm gan vi rút - Viện Y học nhiệt đới Bạch Mai, phụ nữ mang thai nhiễm HBV cần được quản lý chặt chẽ, không chỉ để bảo vệ sức khỏe của người mẹ mà còn nhằm ngăn ngừa nguy cơ lây truyền vi rút sang con.

Nguy cơ lây truyền HBV từ mẹ sang con tăng rõ rệt khi người mẹ có tải lượng vi rút cao. Vì vậy, thai phụ có HBsAg dương tính cần được đánh giá HBV-DNA, chức năng gan và mức độ tổn thương gan để xác định chỉ định điều trị cho mẹ cũng như biện pháp dự phòng lây truyền cho trẻ.

Với người bệnh 32 tuổi này, đợt viêm gan B tiến triển ở cuối thai kỳ cho thấy một thực tế đáng lưu ý: mang vi rút nhưng vẫn cảm thấy khỏe không có nghĩa bệnh đang “ngủ yên”.

Hoạt động của HBV có thể thay đổi theo thời gian. Do đó, người nhiễm HBV cần được theo dõi định kỳ, đặc biệt trước, trong và sau thai kỳ.

Theo các bác sĩ, một “điểm gãy” đáng lo ngại hiện nay là nhiều người biết mình nhiễm HBV nhưng không tuân thủ việc khám, theo dõi định kỳ theo chỉ định của bác sĩ vì thấy cơ thể vẫn bình thường. Việc rời khỏi chuỗi theo dõi có thể khiến cơ hội điều trị và dự phòng bị bỏ lỡ.

Một lần lây nhiễm có thể để lại hệ lụy cho nhiều thế hệ

Điều đáng lo ngại của lây truyền HBV từ mẹ sang con là trẻ có thể được sinh ra mà không có biểu hiện bệnh rõ ràng, trong khi vi rút vẫn tồn tại trong cơ thể nhiều năm.

Theo WHO và CDC, nguy cơ tiến triển từ nhiễm HBV cấp tính sang mạn tính phụ thuộc rất lớn vào độ tuổi nhiễm vi rút lần đầu. Hệ miễn dịch càng non yếu, nguy cơ chuyển sang nhiễm mạn tính càng cao.

 - Ảnh 2.

Lây truyền HBV từ mẹ sang con không chỉ là câu chuyện của một thai phụ hay một gia đình. (Ảnh: BV)

Cụ thể, nếu nhiễm HBV lần đầu ở tuổi trưởng thành, tỷ lệ chuyển thành nhiễm mạn tính rất thấp, khoảng dưới 5%. Phần lớn người trưởng thành có hệ miễn dịch khỏe mạnh khi nhiễm vi rút lần đầu có thể tự đào thải vi rút và hồi phục hoàn toàn.

Trong khi đó, nếu nhiễm HBV từ giai đoạn sơ sinh và những năm đầu đời, nguy cơ chuyển sang nhiễm mạn tính có thể lên tới khoảng 90%.

Điều này có nghĩa, một lần lây truyền trong quá trình sinh có thể khiến trẻ phải sống chung với vi rút trong nhiều thập kỷ, kéo theo nguy cơ viêm gan mạn tính, xơ gan và ung thư gan về sau nếu không được dự phòng và quản lý phù hợp.

TS.BS Đỗ Văn Thành, Trưởng Khoa Viêm gan vi rút, Phó Viện trưởng Viện Y học nhiệt đới Bạch Mai nhấn mạnh, lây truyền HBV từ mẹ sang con không chỉ là câu chuyện của một thai phụ hay một gia đình. Nếu không được phát hiện và can thiệp, trẻ nhiễm HBV có thể trở thành người mang vi rút mạn tính, sau này tiếp tục truyền vi rút cho bạn đời hoặc thế hệ tiếp theo.

“Vì vậy, nếu không cắt đứt được đường lây truyền từ mẹ sang con, chúng ta không chỉ để lại gánh nặng bệnh tật cho một đứa trẻ mà còn có nguy cơ duy trì đường lây nhiễm trong gia đình và cộng đồng qua nhiều thế hệ”, TS.BS Đỗ Văn Thành nhấn mạnh.

Chủ động phòng ngừa để cắt đứt đường lây truyền

Viêm gan B là bệnh nguy hiểm, nhưng lây truyền HBV từ mẹ sang con hoàn toàn có thể chủ động phòng ngừa nếu thực hiện đầy đủ các biện pháp cần thiết.

Theo khuyến cáo của WHO và Bộ Y tế Việt Nam, dự phòng lây truyền HBV từ mẹ sang con là một chuỗi biện pháp phối hợp chặt chẽ, gồm:

Tiêm vắc xin cho trẻ sơ sinh: Tất cả trẻ sơ sinh cần được tiêm mũi vắc xin viêm gan B càng sớm càng tốt, tối ưu trong 24 giờ đầu sau sinh.

Phối hợp vắc xin và HBIG cho trẻ có mẹ nhiễm HBV: Trẻ sinh ra từ mẹ mắc viêm gan B cần được tiêm kết hợp vắc xin viêm gan B và huyết thanh kháng viêm gan B (HBIG) ngay sau sinh theo đúng hướng dẫn chuyên môn, nhằm đạt hiệu quả bảo vệ cao nhất.

Điều trị kháng vi rút cho người mẹ: Thai phụ có tải lượng vi rút cao cần sử dụng thuốc kháng vi rút trong thai kỳ theo chỉ định của bác sĩ nhằm giảm nguy cơ lây truyền HBV cho thai nhi.

Thực hiện quy trình dự phòng toàn diện: Xét nghiệm sàng lọc cho mẹ, điều trị đúng chỉ định trong thai kỳ và can thiệp dự phòng kịp thời cho trẻ ngay sau sinh là những mắt xích liên hoàn, không thể tách rời để bảo vệ trẻ trước nguy cơ nhiễm HBV.

Các bác sĩ khuyến cáo phụ nữ có kế hoạch mang thai hoặc đang mang thai cần chủ động xét nghiệm sàng lọc viêm gan B, đặc biệt là xét nghiệm HBsAg, càng sớm càng tốt.

Khi phát hiện nhiễm viêm gan B, thai phụ không nên hoang mang nhưng cũng tuyệt đối không bỏ qua. Người bệnh cần được bác sĩ chuyên khoa thăm khám, theo dõi và quản lý để xây dựng kế hoạch điều trị, dự phòng lây truyền từ mẹ sang con phù hợp, bảo đảm an toàn cho cả mẹ và trẻ.